Công nghệ thủy canh – bước tiến cần thiết cho nông nghiệp Việt Nam

BƯỚC TIẾN CẦN THIẾT CỦA NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỦY CANH

Nông nghiệp Việt Nam xưa và nay.

Trước đổi mới năm 1986, Việt Nam được biết đến như một nước nông nghiệp điển hình với hơn 90% dân số làm nông nghiệp. Kể từ sau cải cách năm 1986, tuy tỉ trọng nông nghiệp trong GDP có giảm và có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành công nghiệp và dịch vụ nhưng vẫn còn ở mức cao (48% - số liệu năm 2012 bới Cục tình báo Trung Ương Hoa Kỳ). Chính vì vậy mà hoàn toàn có thể kết luận hầu như kinh tế Việt Nam vẫn dựa vào nền nông nghiệp nhiệt đới với điều kiện tự nhiên được ưu đãi, việc khai thác ngày càng có hiệu quả.

Nhưng nhắc đến Việt Nam, bạn bè quốc tế lại không hề có ấn tượng như với “Ông hoàng trái cây” Thái Lan hay “Anh lớn” Trung Quốc trong việc sản xuất lúa gạo. Đơn giản là vì những nông sản của Việt Nam xuất khẩu chưa thật sự đạt đến chuẩn chất lượng mà quốc tế yêu cầu, chủ yếu là xuất khẩu nguyên liệu ở dạng thô, chưa qua xử lí là phần nhiều. Điều này thể hiện rõ ở hình thức canh tác còn lạc hậu ở hầu hết các vùng sản xuất nông sản ở Việt Nam. Nông dân sử dụng các công cụ còn thô sơ như cuốc, xẻng, liềm,… dùng nhiều sức người, năng suất lao động thấp. Các loại nông sản sau khi được thu hoạch chưa được xử lí qua công nghệ hiện đại, chủ yếu chỉ là phơi sấy thủ công nhờ ánh nắng mặt trời, không đảm bảo được chất lượng nguyên vẹn cũng như an toàn vệ sinh thực phẩm.

Ngày nay tuy cách làm nông nghiệp đã được đổi mới khá nhiều nhưng vẫn còn theo kiểu nửa mùa, chưa thực sự làm hài lòng khách hàng quốc tế nên việc bị ép giá là không thể tránh khỏi. Để thật sự tạo được tiếng vang cho nông sản Việt Nam là điều không hề dễ dàng khi phần lớn người nông dân hiện nay ngại tiếp xúc với công nghệ mới hay ngại đầu tư một số tiền quá lớn vào công nghệ hiện đại mà họ chưa chắc chắn được kết quả.

Bài học từ Nhật Bản – từ đất nước “nghèo” đất nông nghiệp nhất thế giới đến đất nước có công nghệ thủy canh khiến cả thế giới nể phục.

Bài học rút ra được từ cách làm nông của người Nhật chính là CHẤT LƯỢNG HƠN SỐ LƯỢNG. Có thể nói, thiên nhiên không hề ưu đãi cho Nhật Bản như Việt Nam. Họ không có đa dạng các loại đất như đất phù sa màu mỡ cho cây lúa và hoa màu. Họ cũng không có đất đỏ bazan lí tưởng cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm như café, cao su, hồ tiêu,… Chất lượng nông sản của Nhật Bản cũng không được đánh giá quá cao vì rau củ của họ không có được hương vị tuyệt vời như của Việt Nam.

Tuy nhiên, người Nhật đã làm được một thứ mà người Việt chưa làm được chính là áp dụng công nghệ thủy canh vào việc trồng trọt. Bên cạnh đó, họ sử dụng nhiều loại máy móc nhất có thể để hỗ trợ mình trong việc làm vườn. Công nghệ thủy canh đã làm thay đổi hoàn toàn nền nông nghiệp Nhật Bản từ trước đến nay. Nhật Bản bắt đầu bị thiếu lao động từ cuối thập niên 50 do sự già hóa dân số nên lực lượng lao động là không đủ. Phần lớn trong lực lượng làm nghề nông khi đó là những người trên 45 tuổi. Họ khó có được sức khỏe cường tráng như những thanh niên 20 -30 tuổi nữa nên việc phải lao động quần quật trên đồng ruộng quả là một thử thách.

Công nghệ thủy canh cho phép những người lao động ở độ tuổi khá cao này làm việc nhẹ nhàng hơn mà năng suất lao động vẫn giữ nguyên, thậm chí có phần tăng lên nhiều lần. Đó là do khi áp dụng công nghệ thủy canh kiểm soát tốt tất cả các điều kiện của cây trồng từ nước, dinh dưỡng, mầm bệnh, côn trùng phá hoại,… Không những thế, diện tích trồng trọt được thu nhỏ lại trên các ống thủy canh, lợi dụng được tối đa không gian trồng trọt nâng năng suất của cây trồng lên gấp nhiều lần.

Công nghệ thủy canh – bước tiến cần thiết cho nông nghiệp Việt Nam.

Đi đôi với quá trình công nghiệp hóa thì cải tiến nền nông nghiệp cũng chính là điều quan trọng mà kinh tế Việt Nam cần lưu ý. Bài học về chất lượng hơn số lượng đã cho thấy thành phẩm đạt chuẩn mới thật sự làm nên mức độ cạnh tranh với nông sản nước bạn chứ không phải vấn đề về giá cả. Các nước nhập khẩu cũng vì thế mà không thể lợi dụng thuế chống bán phá giá để áp lên nông sản Việt Nam.

Ứng dụng công nghệ thủy canh vào nông nghiệp thật sự là một bước tiến cần thiết để phát triển ngành trồng trọt, nâng cao hơn chất lượng và mức sống của người dân. Đồng thời phá bỏ định kiến về làm nông là vất vả, thu nhập ít và không lâu dài. Góp phần khẳng định việc giảm tỷ trọng ngành trồng trọt không có nghĩa là giảm số lượng sản phẩm thu được mà chỉ giảm lao động sử dụng cho việc trồng trọt mà thôi.